CAVANSITE THUYẾT THẠCH LÝ HOÀNG ĐẠO (ZODIAC
STONE THEORY) Theo
Thuyết Thạch Lý Hoàng Đạo (Zodiac Stones Theory) thì loại đánày màu dương, được xếp vào loại đá bản mệnh
của mùa thu và xếp vào đá bản mệnh của cung Kim Ngưu, thuộc hệ Đất. Vì vậy, những
ai sinh vào giữa 20 tháng 4 đến 20 tháng 5 hằng năm thì được xem là có lợi khi
đeo loại đá này. THUYẾT
THẠCH LÝ HOA GIÁP (HWANGAP THEORY) Thuyết
Thạch lý hoa giáp tương ứng loại đá này màu xanh dương, tuỳ sắc độ từ tông lai
xanh lá đến tông lai tím, thuộc về các năm giáp thìn, ất tị, bính ngọ, đinh
mùi, mậu thân, kỷ dậu, canh tuất, tân hợi. Các nam sinh năm giáp thìn, bính ngọ,
mậu thân, canh tuất, thuộc dương là phù hợp để đeo loại đá này. Các nữ sinh năm
ất tỵ, đinh mùi, kỷ dậu, tân hợi thuộc âm là phù hợp để đeo loại đá này. THUYẾT
THẠCH LÝ QUANG SẮC (CHROMATHERAPY THEORY) Theo
Thuyết Thạch Lý Quang Sắc (Chromatherapy Theory) loại đá này màu xanh lam ≈
khám phá và cởi mở. Nó nằm giữa màu tím và màu lục trong ánh sáng quang phổ.Nó
tăng cường khả năng tìm tòi, khám phá. Có tác dụng phát triển dành cho những
người thiếu năng động, khép kín nhằm làm tăng tính cách hiếu động, cởi mở, ham
thích du lịch. Dành cho những người trong các ngành đòi hỏi sự tò mò như các
chuyên gia khoa học, những nhà thám hiểm, điều tra viên, công an, ... Ở Trung Quốc, màu xanh dương thường có liên quan đến sự hành hạ, ma quỷ,
và cái chết. Khảo sát tại Hoa Kỳ và Châuu cho thấy màu xanh là màu phổ biến nhất liên quan đến sự hài hòa, trung
thành, tự tin, khoảng cách, vô hạn, trí tưởng tượng, lạnh, và đôi khi là nỗi buồn.
Trong các cuộc thăm dò ý kiến công chúng ở hai nơi này, màu sắc phổ biến nhất
được lựa chọn bởi gần một nửa số nam giới và phụ nữ, xanh lam là màu ưa thích của
họ. Các cuộc khảo sát tương tự cũng chỉ ra rằng màu xanh là màu có liên quan
nhiều nhất với nam giới, trước màu đen và cũng là màu sắc gắn liền với trí tuệ,
kiến thức, bình tĩnh và tập trung. THUYẾT
THẠCH LÝ MẬT TÔNG (BUDDHISM THEORY) Thuyết
Phật Giáo Mật Tông, loại đá này có màu lam, là bổn sắc của A Súc Bệ Như Lai
(Akshobhya). Ngài là sự chuyển hóa của sân hận thành từ bi. Màu lam và đen đại
diện cho phẫn nộ tướng ứng với tai. Đeo đá này sẽ được A Súc Bệ Như Lai Phật hộ
trì, hỗ trợ về tai và sự điềm tĩnh. Vì đây cũng là màu của cõi người, đá này được
coi là bùa hộ về thính dục, giúp thoát khỏi các nguy hiểm về thính dục thông
qua vị phật phẫn nộ. Tử Thư cho rằng màu này cũng được hộ lãnh bởi Phật Tỳ Lô
Giá Na và Phật Kim Cương Tát Đỏa. Tử Thư nói về màu lam như sau: Màu của hư không là màu lam và linh ảnh xuất hiện lúc này là Phật Tỳ
Lô Giá Na (Vairocana). Những người cần sự điềm tĩnh hay sự thanh lọc những ý niệm
bất hảo có thể dùng loại đá màu lam để giải trừ. THUYẾT
THẠCH LÝ LINH KHÍ (REIKI THEORY) Thuyết
Thạch Lý Linh Khí (Reiki Theory) cho rằng đá này có màu lam được coi là thuộc về
hành Thủy, vì vậy có tác dụng với Túc quyết âm can kinh và Túc thiếu dương đảm
kinh. Túc quyết âm can kinh chủ trị về bệnh can, bao quát bệnh cao huyết áp, nhức
đầu, mất ngủ, hay chiêm bao, bệnh đảm, bệnh hệ sinh dục tiết niệu, và bệnh chứng
của bộ vị kinh này đi qua.Túc thiếu dương đảm kinh chủ trị về bệnh chứng của các
bộ vị bên đầu, mắt, tai, ngực sườn, bệnh can đảm, bệnh thần chí, bệnh phát sốt,
xây xẩm, sưng chân, táo bón và bệnh chứng của bộ vị kinh này đi qua.Các bệnh
này sẽ được chữa lành bằng cách sử dụng các viên đá để ấn vào các huyệt đạo thuộc
kinh lạc tương ứng. THUYẾT
THẠCH LÝ NGŨ HÀNH (WUHANH THEORY) Thuyết Ngũ Hành cho
rằng Lam Đồng Quáng thuộc về Mộc (xanh dương đậm) phối Hỏa (nhọn), tức Mộc Cục.
Do đó, Lam Đồng Quáng giúp khắc chế các bản mệnh Thủy – Hỏa như Nhâm Ngọ, Quý Tỵ,
Bính Tý, Đinh Hợi, vì vậy, những bản mệnh trên có lợi khi đeo loại ngọc này.
Lam Đồng Quáng cũng phù trợ cho các bản mệnh thuộc Hỏa (Mộc sinh Hỏa), gồm mệnh
thuộc Hỏa Mộc và thuần Hỏa: Bính Dần, Đinh Mão, Giáp Ngọ, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh
Tỵ, các bản mệnh này có lợi khi tiếp xúc với loại ngọc này. THUYẾT
THẠCH LÝ TỨ TRỤ Theo
thuyết Tứ Trụ, đá ngọc có màu lam thuộc mệnh Mộc. Đá ngọc thuộc mệnh Mộc cũng rất hạp với mệnh Thủy sinh mùa thu. Thủy của
mùa thu, vì Kim tư lệnh đương quyền, do đó Kim Thủy tương sinh, mẹ vượng con tướng.
Mộc thịnh vượng thì sẽ tiết hao nguyên khí của Thủy, nhưng con cái sẽ hiển
vinh. THUYẾT
THẠCH LÝ LUÂN XA (CHAKRA THEORY) Sahara
( tiếng Phạn : सहस्रार , IAST : Sahasrāra , tiếng Anh: "nghìn cánh
hoa") hoặc chakra đỉnh đầu thường được coi là chakra nguyên thủy thứ bảy,
theo hầu hết các tantric (hệ thống) yoga truyền thống. Sahasrara được mô tả như
một hoa sen với 1.000 cánh hoa màu khác nhau. Sahara đại diện cho màu tím đậm.
Những cánh hoa này được bố trí trong 20 lớp, mỗi lớp với khoảng 50 cánh hoa. Phần
vỏ quả màu vàng và bên trong vùng mặt trăng tròn là tam giác màu sáng có thể hướng
lên hoặc hướng xuống. Trong Sahasrara, vẫn còn nhiều cấp độ của những liên kết. Trong tam
giác bắt đầu một loạt các mức độ ý thức cao hơn: Ama-Kala (Ama-kala là trãi
nghiệm của thiền định.), the First Ring of Visarga (Visarga được biểu tượng bằng
hai vòng tròn nhỏ, một trong số đó nằm trong Ama-Kala, và cái kia nằm dưới
Supreme Bindu, tượng trưng cho sự chuyển tiếp từ samprajnata samadhi (samadhi với
tâm thức) sang tính nhất quán của asamprajnata samadhi (samadhi không tâm thức).),
Nirvana-Kala (Ở đây Kundalini hấp thụ trải nghiệm của samadhi, thông qua sức mạnh
của khả năng kiểm soát tối cao (Nirodhika-Fire).), và Nirvana Shakti (Ở đây
Kundalini đi vào khoảng trống tối cao, nơi được gọi là trải nghiệm của
asamprajnata hay nirvikalpa samadhi, và trở thành Shankhini. Shankhini quấn lấy
và hấp thụ Bindu tối cao vào khoảng trống đó; sau đó là Nada Tối Cao; rồi
Shakti; và sau đó hợp nhất và hấp thụ Sakala Shiva; trước khi hấp thụ Parama
Shiva cuối cùng,giai đoạn cuối cùng của
niết bàn (nirvikalpa samadhi)), bên trong còn có the Second Ring of Visarga. Từ
đây, Kundalini trở thành Shankhini, với 3,5 vòng xoắn. Vòng xoắn thứ nhất của
Shankhini quấn quanh Bindu tối cao, Vòng xoắn thứ hai của Shankhini quấn quanh
Nada tối cao, vòng xoắn thứ ba của Shankhini quấn quanh Shakti, và nửa vòng xoắn
của Shankhini đi vào Sakala Shiva, ra khỏi vị trí đó được gọi là Parama Shiva. THUYẾT
THẠCH LÝ VI LƯỢNG TRỊ LIỆU (OLIGOTHERAPY THEORY). Mỗi viên đá, bằng vi
lượng chứa trong nó, được tin là sẽ tác động lên phần sinh lý cơ thể, giúp gợi
ý cho việc chữa bệnh hoặc tác động lên tinh thần. Đá này có công thức là [Ca(VO)Si4O10·4(H2O)], bao gồm các nguyên tố: H (hydrogen, Tiếng Việt:
hydro), O (oxygen, Tiếng Việt: oxy), Ca (calcium, Tiếng Việt: calci), Si
(siliconium, Tiếng Việt: silic), V (vanadium, Tiếng Việt: vanadi). Trong cơ thể con người, Silic
(Si) chiếm chỉ số năng lượng (MASS) là 0,0023, tỉ lệ nguyên tố là 0.0058, vì vậy
nó tác động tích cực cho sức khỏe, mặc dù, tác dụng không rõ ràng ở chứng bệnh
hay vị trí nào của cơ thể. Nguyên tố Oxygen (O) có số
nguyên tử là 8, chiếm tỉ trọng trong cơ thể người là 0.65. Thành phần của
nguyên tố này trong cơ thể trung bình là 43kg chiếm tỷ lệ là 24%. Tác động đến
sức khỏe và sự sống của hầu hết các loài động thực vật trên thế giới. Nguyên tố Calcium (Ca) có số
nguyên tử là 20, tỉ trọng Canxi trong cơ thể là 0.014 và khối lượng trung bình
trong cơ thể người là 1kg đạt tỷ lệ là 0.22%. Tác động tích cực cho sức khỏe do
Canxi là thành phần chủ yếu của răng và hệ xương, đặc biệt là trong các thành
phần Calmodulin và Hydroxylapatite. Tác dụng lên hệ xương, chiều cao, sự vận động
và phục hồi xương. Được coi là có tác dụng tốt cho chứng gãy xương, hay tăng
chiều cao ở trẻ em. Được sử dụng nhiều cho các vận động viên, hoặc các ngành
nghề cơ bắp. Nguyên tố Vanadium (V) số hiệu
nguyên tử là 23, tỉ trọng cơ thể là 260×10-7, khối lượng trung bình
0.00000011kg, tỷ lệ nguyên tố là 1.20E-08% trong cơ thể. Hiện không rõ tác dụng
với cơ thể con người. THUYẾT THẠCH LÝ BÁT HOÀ NGUYÊN TỐ (LAW
OF OCTAVES THEORY) Loại đá này chứa [V (vanadium, Tiếng
Việt: vanadi)], nên thuộc ảnh hưởng của Nhật Tinh (Sun). Loại đá này mang yếu tố của mặt trời với
nguyên tố chủ đạolà nguyên tố Lửa. Vì vậy
nó tác động lên tim, máu huyết và hệ thống tuần hoàn máu. Có tác dụng hỗ trợ trị
liệu cho các bệnh liên quan tim mạch hoặc các chứng máu huyết. Nó còn giúp tăng
cường ý chí và tư tưởng, đặc biệt là sự tự tin kiêu hãnh, tố chất lãnh đạo,
tính sáng tạo và quyền lực cá nhân... nhấn mạnh yếu tố tư tưởng. Về mặt tinh thần,
loại đá này được cho là trấn giữ các mối quan hệ của nhà chiêm tinh thứ 4 và
11: gia đình, họ tộc, cha mẹ (nhà Genitor); bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm láng
giềng (nhà Benefecta). Dành hỗ trợ cho những người có mối quan hệ đã nêu không
được suông sẻ để cải thiện tình hình. Thuyết của Dante Alighieri, cho rằng yếu
tố mặt trời bảo trợ về âm nhạc và nghệ thuật nói chung (Dante Alighieri). Dành
cho những người làm trong lĩnh vực âm nhạc, nghệ thuật như ca sĩ, họa sĩ, nhạc
sĩ, vũ công, kiến trúc sư, điêu khắc gia, thợ kim hoàn, các nhà nghệ thuật và
bình luận nghệ thuật. Loại đá này chứa [Ca (calcium, Tiếng
Việt: calci)], nên thuộc ảnh hưởng của Hoả Tinh (Mars). Loại đá này mang yếu tố của hỏa tinh với
nguyên tố chủ đạolà nguyên tố Lửa. Vì vậy
nó tác động lên hệ sinh dục, bộ phận sinh dục, tuyến thượng thận. Có tác dụng hỗ
trợ trị liệu cho các bệnh liên quan đến tình dục như yếu sinh lý, liệt dương,
khoái cảm kém nhằm tăng cường sinh lực tình dục. Nó còn giúp tăng cường ý chí
và tư tưởng, đặc biệt là sự tham vọng, đầy năng lượng, đam mê, nam tính, hành động,
kỷ luật, lòng nhiệt huyết, nhiệt tình trong tình dục... nhấn mạnh yếu tố ý chí.
Về mặt tinh thần, loại đá này được cho là trấn giữ các mối quan hệ của nhà
chiêm tinh thứ 3 và 10: anh em, bà con (nhà Fratres); chức vụ, nhiệm (nhà
Regnum). Dành hỗ trợ cho những người có mối quan hệ đã nêu không được suông sẻ
để cải thiện tình hình. Thuyết của Dante Alighieri, cho rằng yếu tố hỏa tinh bảo
trợ về toán và suy luận nói chung (Dante Alighieri). Dành cho những người làm
trong lĩnh vực liên quan đến tính toán như các ngành toán, vật lý, kỹ sư, cơ giới,
thủ quỹ, thủ kho, buôn bán, kế toán... Loại đá này chứa [Si (siliconium,
Tiếng Việt: silic)], nên thuộc ảnh hưởng của Mộc Tinh (Jupiter). Loại đá này mang yếu tố mộc tinh, vì vậy
có tác động lên vùng bụng, gan, tuyến yên, lớp mỡ quanh eo, đùi. Có tác dụng hỗ
trợ trị liệu cho các bệnh liên quan đến sự nghèo khó (suy dinh dưỡng) và cả
giàu có (béo phì), các chứng liên quan đến bụng, gan (đau bụng). Về mặt tinh thần,
loại đá này được cho là trấn giữ các mối quan hệ của nhà chiêm tinh thứ 2 và 9:
tài sản, tiền bạc (nhà Lucrum) và du hành, du lịch (nhà Iter). Dành hỗ trợ cho
những người có vấn đề với tiền bạc hay gặp vận rủi, những người muốn đi du lịch,
hay di cư không được xuông sẻ, thúc đẩy tiền bạc và thường xuyên du hành. tăng
cường vật chất và sở hữu, đặc biệt là sự phát triển, thịnh vượng, may mắn, tự
do, du hành, luật pháp, nhân đạo,... nhấn mạnh đến yếu tố giàu có vật chất.
Thuyết của Dante Alighieri, cho rằng yếu tố mộc tinh bảo trợ về địa lý và cấu
trúc nói chung (Dante Alighieri). Vì vậy, đá này dành cho những người làm trong
lĩnh vực liên quan đến các địa lý và du lịch như hướng dẫn viên du lịch, phi
công, hoa tiêu, tài xế, cục địa dư, tàu hỏa, khảo cổ, xây dựng cầu đường... Loại đá này chứa [H (hydrogen, Tiếng
Việt: hydro), O (oxygen, Tiếng Việt: oxy)], nên thuộc ảnh hưởng của Địa
Tinh (Primius) Loại đá này mang yếu tố Primius với
nguyên tố chủ đạo là nguyên tố Đất, vì vậy tác động lên hệ cơ bắp, búi cơ tay
chân, cơ hoành, da răng và các lông tóc bên ngoài. Có tác dụng hỗ trợ trị liệu
cho các bệnh liên quan đến các yếu tố tóc, lông và cơ như chứng rụng tóc, đau
răng, bị da liễu, hoặc các chứng liên quan đến cơ như chuột rút, teo cơ, phù thủng...
Ngoài ra còn tăng cường vật chất và sở hữu, đặc biệt là sự đột phá, cấp tiến,
cách mạng, cải biên xã hội, đẩy mạnh tự do, bất cần, vô chính phủ... nhấn mạnh
đến yếu tố sở hữu. Về mặt tinh thần, loại đá này được cho là không trấn giữ
cung nào theo Chiêm Tinh Cổ, nhưng trấn giữ vị trí con rồng (Dragons), ở hai vị
trí đầu rồng và đuôi rồng, Chiêm tinh gọi là Caput Draconis và Cauda Draconis,
tiếng Việt hay dịch là La Hầu và Kế Đô. Không có quan niệm chính thức cho hai vị
trí này. Thông thường, người ta coi nó là đại diện cho tính tốt và xấu trong mỗi
con người. Vì vậy, nó thúc đẩy các mối quan hệ về con người và bản chất con người.
Thuyết của Dante Alighieri, cho rằng yếu tố này bảo trợ về không gian và thời
gian nói chung. Dành cho những người làm trong lĩnh vực liên quan đến các không
gian và thời gian như người làm đồng hồ, những người rung chuông, gác cổng, những
người canh giờ tàu hỏa,... hoặc những người cảnh báo tư tưởng (gọi là những người
tiền vệ - avantgarde).
0 Comments